Tài sản thế chấp là động sản chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro

3:32:00 CH |

Tác giả: Lê Văn Khuê-Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Quảng Trị

Tài sản thế chấp là động sản chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro
       Bộ luật dân sự năm 2005 có nhiều thay đổi liên quan đến nhiều vấn đề trong hoạt động ngân hàng theo chiều hướng cởi mở và thông thoáng hơn, phù hợp với xu thế hội nhập của nền kinh tế. Tuy nhiên đi cùng với sự thông thoáng, cởi mở thì rủi ro luôn luôn rình rập. Nếu các TCTD không có những quy định chặt chẽ, mang tính khoa học từ khâu thẩm định, định giá tài sản thế chấp đến việc kiểm tra, theo dõi trong suốt thời hạn cho vay thì không tránh khỏi những rủi ro đáng tiếc xảy ra khi xử lý nợ. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến một khía cạnh nhỏ trong vấn đề tài sản thế chấp là động sản.
         Như chúng ta đã biết theo quy định mới của Bộ luật dân sự năm 2005, ở Điều 342 có khái niệm về thế chấp tài sản là: “ Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”. Như vậy so với quy định trước đây ở Bộ luật dân sự năm 1995 thì hiện nay các TCTD được phép nhận tài sản thế chấp là động sản (trước đây tài sản thế chấp chỉ có bất động sản). Theo quy định hiện hành về thế chấp tài sản thì bên nhận thế chấp (các TCTD) chỉ cầm giữ giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, còn tài sản do bên thế chấp (khách hàng)quản lý và sử dụng.Trong thực tế vấn đề này chứa đựng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Những yếu tố dẫn đến rủi ro có thể quy lại ở những điểm sau:
         Một là, rủi ro xuất phát từ việc định giá tài sản thế chấp: Theo quy định tại Điều 8, Nghị định 178/1999/NĐ-CP, ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay các TCTD có quy định “Đối với tài sản bảo đảm tiền vay không phải là quyền sử dụng đất, thì việc xác định giá trị tài sản bảo đảm tiền vay do các bên thoả thuận, hoặc thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xác định trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm xác định, có tham khảo đến các loại giá như giá quy định của nhà nước (nếu có), giá mua, giá trị còn lại trên sổ sách kế toán và các yếu tố khác về giá”. Tuy nhiên trong thực tế trừ những động sản có giá trị lớn hàng tỷ đồng, các TCTD mới thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn định giá, còn lại đa số việc định giá đều do các bên thoả thuận và như vậy giá trị TSTC được định giá trên những cơ sở thiếu khoa học và mang tính chủ quan. Điều đó thể hiện:
         Đối với khách hàng vay vốn là các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh doanh, hành nghề trong lĩnh vực xây dựng. Tài sản thế chấp là các loại xe, máy như: xe ủi, máy húc, máy nén, xe ô tô tải, xe ô tô con…Đa số các động sản trên được nhập khẩu từ các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, được sản xuất từ những năm đầu 90, cách đây trên 15 năm và đã qua sử dụng trước khi  nhập khẩu vào nước ta, cá biệt có những tài sản được mua đi bán lại nhiều lần. Nhóm tài sản này theo quy định hiện hành có thời gian khấu hao khoảng từ 6 đến 10 năm. Phải nói rằng: Đây là những tài sản có thời gian sử dụng khá dài và đã lạc hậu. Tuy nhiên khi định giá các yếu tố này không được xem xét và loại trừ. Khi định giá, các Tổ chức tín dụng (TCTD) không trừ đi phần giá trị hao mòn (khấu hao) của tài sản trong tương lai, tức là trong thời hạn cho vay. Thông thường việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ xảy ra sau khi đã hết thời hạn vay vốn mà khách hàng không trả được nợ theo đúng cam kết và thường thì các khoản này đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Tuy nhiên khi định giá, thì theo giá thị trường ở thời điểm cho vay. Trong thực tế có những tài sản thế chấp, thời hạn trích khấu hao chỉ còn lại 5 đến 7 năm. Trong lúc đó  thời hạn cho vay mà tài sản đó có nghĩa vụ bảo đảm cao hơn hoặc bằng, và như thế vô hình dung các TCTD đã nhận tài sản thế chấp đã khấu hao hết giá trị, chờ thanh lý. Ngoài ra chúng ta còn chưa tính đến, trong thực tế có những doanh nghiệp thực hiện khấu hao tài sản theo phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm (giá trị thực hiện của các công trình), những loại đầu xe, máy chỉ cần tham gia một vài công trình đã khấu hao hết giá trị, để thực hiện được điều này tất nhiên các doanh nghiệp phải tận dụng và khai thác tối đa năng lực của máy móc thiết bị và như thế tài sản thế chấp ngân hàng sau vài năm trở thành sắt phế liệu.
          Hai là, rủi ro xuất phát từ khả năng quản lý, kiểm tra và giám sát từ phía ngân hàng đối với tài sản thế chấp: Trong thời hạn cho vay, ngân hàng phải luôn luôn kiểm tra và giám sát tài sản thế chấp một cách chặt chẽ. Tuy nhiên đối với động sản gặp không ít những khó khăn, nhất là đối với các Doanh nghiệp hoạt động hành nghề trong lĩnh vực xây dựng. Các đầu xe, máy hoạt động ở rất nhiều công trình từ đô thị, đồng bằng đến miến núi xa hẻo lánh, đường sá đi lại khó khăn. Vì vậy việc kiểm tra, thẩm định tài sản thế chấp trước khi cho vay còn khó, chứ nói gì đến việc kiểm tra, giám sát định kỳ. Chính vì vậy tài sản thế chấp còn hay mất, tình trạng tài sản như thế nào các TCTD làm sao nắm bắt được.
          Ba là, rủi ro xuất phát từ những rủi ro bất khả kháng về tài sản của Doanh nghiệp trong quá trình khai thác và sử dụng tài sản thế chấp: Trong quá trình khai thác và sử dụng tài sản thế chấp những rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào như: tai nạn giao thông đối với những đầu xe, máy tham gia giao thông; tai nạn do thiên tai mang lại đối với những đầu xe, máy hoạt động ở những vùng rừng núi, vùng sâu, vùng xa bị nước lũ cuốn trôi. Chưa nói đến những mất mát về tài sản do bị các cơ quan chức năng tịch thu vì chủ tài sản hoặc người sử dụng tài sản vi phạm pháp luật…Trong lúc đó đa số các tài sản đều không được Doanh nghiệp mua bảo hiểm và nếu có mua bảo hiểm thì chỉ mua bảo hiểm bắt buộc đối với bên thứ ba, khoản này không thuộc sở hữu của cả bên thế chấp lẫn bên nhận thế chấp. Có một số Doanh nghiệp để đối phó vấn đề này họ chỉ mua bảo hiểm cho tài sản trong thời hạn 6 tháng hoặc 1 năm khi bắt đầu thế chấp tài sản, trong lúc đó thời hạn cho vay lớn hơn nhiều, thế nhưng doanh nghiệp vẫn không mua bảo hiểm trong suốt cả thời gian còn lại của thời hạn cho vay và như thế, khi rủi ro xảy ra ngân hàng là người phải gánh chịu.
          Ngoài các yếu tố trên chúng ta không loại trừ có một số khách hàng  thông qua việc lợi dụng sơ hở trong cấp giấy chứng nhận sở hữu tài sản (báo mất xin cấp lại) để cùng một lúc, cùng  một động sản, thế chấp vay vốn ở nhiều TCTD.
         Từ những thực trạng nêu trên, chúng tôi thiết nghỉ: Tuy rằng khi cho  vay, chúng ta luôn mong muốn khách hàng kinh doanh có hiệu quả và trả đầy đủ gốc và lãi tiền vay cho ngân hàng. Nhưng chúng ta cũng phải đặt ra tình huống khách hàng kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán, thì nguồn thu hồi nợ lúc này là xử lý tài sản thế chấp. Bởi vì trong cơ chế thị trường thành công hay thất bại trong sản xuất kinh doanh xảy ra là chuyện thường tình. Chính vì thế việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản bằng biện pháp thế chấp tài sản là động sản, nên chăng các TCTD phải có những quy định cụ thể, chi tiết về điều kiện cần và đủ đối với những tài sản nhận thế chấp, cần thiết phải quy định tài sản đó phải mua bảo hiểm (Bảo hiểm tài sản) trong suốt cả thời hạn cho vay; phải đặt ra quy trình kiểm tra, quản lý và theo dõi tài sản thế chấp một cách chặt chẽ cần kết hợp thế chấp tài sản là bất động sản với thế chấp tài sản là động sản với một tỷ lệ thích hợp và phải có quy chế trách nhiệm của những cá nhân có liên quan trong việc kiểm tra thẩm định, định giá tài sản thế chấp, có như vậy các TCTD mới hạn chế được những rủi ro dẫn đến mất vốn khi khách hàng sản xuất kinh doanh thua lỗ phải xử lý tài sản để thu hồi nợ.

Đã đăng trên Thời báo Ngân hàng
Xem thêm…

Nợ chồng nợ

3:26:00 CH |

Tác giả: Lê Văn Khuê-Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Quảng Trị

             Thực hiện đa dạng hóa cây và con trong chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, một số xã thuộc huyện Triệu phong, tỉnh Quảng Trị đã tiến hành dồn vùng đổi thữa, chuyển đổi một số đất nông nghiệp có sản lượng thấp sang xây hồ, đắp đập nuôi tôm sú. Phải nói rằng đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước góp phần giúp người nông dân phá thế thuần nông, độc canh cây lúa vươn lên làm giàu, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở vùng nông thôn, đặc biệt là vùng quê gió cát quanh năm nghèo khó này.            
              Qua gần 5 năm thực hiện chương trình nuôi tôm sú (2000-2005), với diện tích 264 ha, 523 hộ tham gia, tổng số vốn ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã đầu tư lên tới 9.036 tr đ, chưa kể đến nguồn vốn mà người dân đã chắt chiu, dành dụm bao nhiêu năm mà có, tất cả đều tập trung vào việc nuôi tôm sú, với hy vọng một ngày không xa họ sẽ vượt lên sự nghèo khó, có của ăn, của để, nhà cửa khang trang. Tuy nhiên niềm hy vọng ngày càng tan biến, vụ này nối tiếp vụ kia tôm không bị dịch bệnh cũng cọt còi không lớn, sản lượng tôm năm sau lại giảm hơn so với năm trước do môi trường ngày càng bị ô nhiễm. Đa số các hộ nuôi tôm nguồn thu nhập cuối vụ không đủ bù đắp các khoản chi phí. Phải nói rằng nghề nuôi tôm sú chi phí quá cao, từ con giống, thức ăn đến thuốc men xử lý ao hồ và điều trị khi bị dịch bệnh có hộ lên tới cả trăm triệu đồng/vụ. Thế là nợ nần chồng chất, tiền của trong gia đình lần lượt ra đi với hy vọng mong chờ vào vụ tới. Cứ như thế, năm sau nợ chồng lên năm trước.  
          Tính đến ngày 31/5/2005, nợ quá hạn chỉ tính nợ gốc đã lên tới 1.314 triệu đồng, chiếm  14,5% dư nợ cho vay nuôi tôm sú. Trong đó nợ quá hạn đến 180 ngày 462 triệu đồng, chiếm 35 % ; nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày 591 triệu đồng, chiếm 45 %; nợ quá hạn trên 360 ngày 261 triệu đồng, chiếm 20 % tổng dư nợ quá hạn cho vay nuôi tôm sú. Số dư nợ trong hạn còn lại gần như 100 % đều đã được ngân hàng cho điều chỉnh đến kỳ hạn cuối và đã hết thời gian được phép gia hạn nợ theo quy định trước đây của Ngân hàng Nhà nước và hướng dẫn của NHNo&PTNT Việt Nam. Khoảng quý I/2006 thì toàn bộ số dư nợ hiện còn trong hạn sẽ đến hạn và khả năng thu hồi nợ là rất khó khăn. 
          Phải nói rằng đa số các hộ nuôi tôm tình hình tài chính vô cùng khó khăn, ngoài các khoản nợ vay tại ngân hàng bao gồm cho vay ngắn hạn, trung hạn thông thường và vay từ nguồn khắc phục thiên tai có những hộ lên tới 200 triệu đồng tiền gốc, chưa kể tiền lãi. Ngoài ra họ còn nợ tư nhân bên ngoài; nợ các đại lý thuốc thú y, đại lý thức ăn gia súc từ vài chục tới vài trăm triệu đồng. Trong lúc đó nguồn thu của gia đình chủ yếu từ nuôi tôm, thu từ sản xuất nông nghiệp và từ kinh tế phụ gia đình không đáng kể. Tài sản gia đình họ ngoài ngôi nhà để ở, trị giá khoảng từ 10 đến 20 triệu đồng, còn các tài sản khác gắn liền trên đất có giá trị không đáng kể. Cho nên khả năng thu hồi nợ rất khó kể cả áp dụng biện pháp xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ.
         Nhìn lại sau 5 năm thực hiện chương trình nuôi tôm sú ở một số xã thuộc huyện Triệu Phong, những hộ dân tham gia chẳng những không giàu lên “có của ăn, của để”, “nhà cao, cửa rộng”, mà càng ngày càng nghèo khó thêm bởi nợ nần chồng chất, thậm chí có những hộ làm ăn thua lỗ đã rời khỏi địa phương đi vào Nam làm ăn kiếm sống. Còn ngân hàng thì không thu hồi được vốn cho vay, nợ quá hạn cao, trích dự phòng rủi ro lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, tiền lương và đời sống của cán bộ nhân viên. Nói tóm lại hiệu quả kinh tế, xã hội mang lại từ việc thực hiện chương trình đầu tư nuôi  tôm sú ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị không cao, có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân khách quan  lẫn nguyên nhân chủ quan của nhiều cơ quan ban ngành ở địa phương liên quan trong việc quyết định thực hiện chương trình, việc hổ trợ, hướng dẫn, tư vấn về mặt kỷ thuật và không thể quên phần trách nhiệm của ngân hàng trong việc kiểm tra thẩm định trước, trong và sau khi cho vay nhằm giúp khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích và phát huy tốt hiệu quả. Tuy nhiên vấn đề hiện nay không phải  quy trách nhiệm thuộc về ai mà điều quan trọng là phải tìm ra được biện pháp tháo gỡ tối ưu nhất, giúp cho người dân thoát khỏi vòng lẫn quẫn của nợ nần, giúp ngân hàng thu hồi được vốn vay mới là điều quan trọng./.

                                                                                                                                                   
Đã đăng ở Thời báo Ngân hàng

Xem thêm…

GIÁM SÁT THƯỜNG XUYÊN CÁC TCTD, THỰC TRẠNG - ĐỀ XUẤT TỪ CƠ SỞ

11:12:00 CH |
Lê Văn Khuê - Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Quảng Trị        
Ảnh minh họa
         Giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ là hai phương thức cơ bản mà Thanh tra Ngân hàng áp dụng trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Trong đó, giám sát từ xa các tổ chức tín dụng (TCTD) là việc làm thường xuyên và không thể thiếu, nhằm phân tích, đánh giá, phát hiện những vi phạm về tỷ lệ an toàn trong hoạt động, vi phạm các quy định pháp luật trong hoạt động kinh doanh tiền tệ. Từ đó kịp thời chấn chỉnh và đưa ra các cảnh báo, giúp các TCTD hoạt động đúng pháp luật, an toàn và hiệu quả.
        Giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ là hai phương thức cơ bản mà Thanh tra Ngân hàng áp dụng trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Trong đó, giám sát từ xa các tổ chức tín dụng (TCTD) là việc làm thường xuyên và không thể thiếu, nhằm phân tích, đánh giá, phát hiện những vi phạm về tỷ lệ an toàn trong hoạt động, vi phạm các quy định pháp luật trong hoạt động kinh doanh tiền tệ. Từ đó kịp thời chấn chỉnh và đưa ra các cảnh báo, giúp các TCTD hoạt động đúng pháp luật, an toàn và hiệu quả.
       Những bất cập
        Từ đầu những năm 90, Thanh tra Ngân hàng đã ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác giám sát, thay thế việc giám sát thủ công như trước đây bằng việc giám sát bằng máy, từ đó đã làm cho công tác giám sát từ xa của Thanh tra Ngân hàng được nâng lên một bước cả về mặt chất lượng lẫn hiệu quả công việc. Hơn 10 năm áp dụng công nghệ tin học vào công tác giám sát, chúng ta đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, công tác giám sát từ xa của Thanh tra Ngân hàng còn quá nhiều bất cập trước sự đổi mới nhanh chóng của công nghệ tin học và trước yêu cầu của việc hiện đại hóa ngân hàng trong thời kỳ hội nhập. ở giác độ cơ sở (Thanh tra Chi nhánh), chúng tôithấy điều đó thể hiện ở chỗ:
          Thứ nhất, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho công tác giám sát chưa đầy đủ,còn lạc hậu và chậm được thay thế. Trong những năm đầu triển khai giám sát bằng máy, mỗi chi nhánh chỉ được trang bị từ 1 đến 2 máy tính (đa số 1 máy) loại 386hoặc 486 để phục vụ cho công tác giám sát, qua một thời gian dài, máy móc hỏng hóc chậm được trang bị lại. Các máy tính đều không được nối mạng, hoạt động độc lập. Cho nên phải sử dụng đĩa mềm để trao đổi dữ liệu (nhận nguồn dữ liệu đầu vào từ các TCTD), tình trạng này kéo dài nhiều năm, làm ảnh hưởng không ít đến chất lượng và hiệu quả của công việc.
         Thứ hai,phần mềm giám sát chậm được điều chỉnh khi các quy chế, các chuẩn mực giám sát thay đổi và chậm thay thế trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ phần mềm, từ đó sinh ra lỗi thời, lạc hậu, không đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác giám sát. Cụ thể phần mềm giám sát được viết bằng ngôn ngữ FOXPRO cổ điển (FOXPRO 2.6, FOXPRO 3.0) từ đầu những năm 90, đến nay gần 15 năm chưa được thay thế, chỉ điều chỉnh 1 đến 2 lần khi hệ thống tài khoản kế toán hoặc các chỉ tiêu giám sát thay đổi. Về cơ bản, không thay đổi gì lớn, chỉ thay đổi cách nhặt số liệu theo hệ thống tài khoản mới và thay đổi cách tính toán một số chỉ tiêu. Các chỉ tiêu giám sát đưa ra quá nhiều, phải nói là quá rườm rà và thiếu tính cô đọng, chưa nói đến hình thức của chương trình.
        Xuất phát từ việc chậm đổi mới,cho nên khi phần mềm báo cáo thống kê ra đời và đưa vào áp dụng, phần mềm giám sát từ xa của Thanh tra không khai thác và sử dụng được các nguồn thông tin thu thập được từ chương trình báo cáo thống kê, điều này ví như con người ta “đói”nhưng thấy cơm không được ăn, “khát” thấy nước không được uống, thật là lãng phí.
         Thứ ba,về phần con người trực tiếp thực hiện công tác giám sát. Tuy rằng đa số đều có trình độ đại học và có kinh nghiệm trong công tác thanh tra, nhưng kỹ năng giám sát còn nhiều hạn chế và hằng năm chưa được bồi dưỡng thêm nghiệp vụ.Vì vậy, khả năng phân tích, đánh giá của cán bộ làm công tác giám sát đa số còn yếu, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác giám sát hiện nay.
          Thứ tư,thực tế hiện nay, hằng tháng, Thanh tra các chi nhánh có trách nhiệm thực hiện giám sát từ xa các Chi nhánh cấp I của các Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng Chính sách xã hội và các loại ngân hàng khác có mở chi nhánh cấp I và toàn bộ quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) cơ sở trên địa bàn. Cuối mỗi quý,trước ngày 15 của tháng đầu tiên của quý sau, Thanh tra Chi nhánh phải làm báo cáo giám sát gửi Thanh tra Trung ương. Về nguyên tắc, các chỉ tiêu giám sát chỉ áp dụng đối với các TCTD là pháp nhân (trụ sở chính), còn ở các chi nhánh của các TCTD thì các chỉ tiêu giám sát không nói lên được điều gì. Cho nên việc giám sát từ xa các Chi nhánh cấp I là một việc không nên làm, vì không mang lại hiệu quả. Đối với các QTDND cơ sở, tuy là một pháp nhân độc lập, nhưng nếu thực hiện giám sát từng quỹ, với khối lượng hàng loạt các chỉ tiêu giám sát được in ra trên hàng chục loại mẫu biểu như hiện nay và với số lượng QTDND cơ sở ở một số chi nhánh lên tới 50 đến 60 quỹ thì đây là một khối lượng công việc không nhỏ đối với các chi nhánh. Chính vì vậy, công tác giám sát chỉ dừng lại ở mức “Cưỡi ngựa, xem hoa”, phân tích, đánh giá và đưa ra các nhận xét một cách chung chung,thiếu tính cụ thể, mang tính báo cáo nhiều hơn là giám sát. Cho nên chất lượng và hiệu quả không cao, chưa có tác dụng trong việc ngăn ngừa và cảnh báo rủi ro.
        Một số đề xuất
       Từ thực tế như trên, chúng tôi mạnh dạn đưa ra những đề xuất mang tính trao đổi và tham khảo như sau:
        Một là,công tác giám sát từ xa phải được thực hiện theo hướng tập trung về một đầu mối là Thanh tra Trung ương. Thanh tra Trung ương phải là nơi thực hiện phân tích, giám sát các TCTD. Trước mắt, Thanh tra Trung ương thực hiện giám sát các TCTD có trụ sở chính đóng tại địa bàn Hà Nội và thành phố Hồ Chi Minh; các TCTD có trụ sở chính đóng tại các địa phương khác do Thanh tra Chi nhánh thực hiện (hay sau này theo mô hình khu vực sẽ do Thanh tra Khu vực thực hiện). Tại Thanh tra Chi nhánh (sau này Khu vực), không thực hiện giám sát từ xa đối với các Chi nhánh cấp I của các TCTD. Bãi bỏ việc Thanh tra Chi nhánh lập và gửi báo cáo giám sát cho Thanh tra Trung ương như từ trước đến nay vẫn làm, vì việc báo cáo chỉ mang tính hình thức, thậm chí còn mang tính đối phó, vừa mất thời gian vừa không mang lại hiệu quả thiết thực.
       Hai là,về cơ sở vật chất, phải được trang bị đầy đủ và thực hiện nối mạng trực tiếp giữa Thanh tra Trung ương và Thanh tra Chi nhánh (hay Khu vực). Có như vậy mới thực hiện được trao đổi thông tin hai chiều giữa Thanh tra Trung ương và Thanh tra Chi nhánh một cách nhanh chóng, tiện lợi, bảo đảm yêu cầu của việc tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin giữa Thanh tra Trung ương với Chi nhánh và ngược lại. Có như vậy mới làm cho hoạt động giám sát bảo đảm tính kịp thời,có hiệu quả.
        Ba là,phần mềm giám sát phải nhanh chóng được viết lại bằng ngôn ngữ lập trình tiến bộ, phù hợp với ngôn ngữ của các chương trình khác trong toàn hệ thống Ngân hàng như: Chương trình báo cáo thống kê, Chương trình thông tin tín dụng và chương trình giao dịch của các TCTD. Có như vậy mới có tác dụng khai thác hết lợi thế của việc áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến vào trong lĩnh vực Ngân hàng. Phần mềm mới phải được viết theo hướng dễ cập nhật và sửa đổi mỗi khi hệ thống tài khoản, các chỉ tiêu, chuẩn mực giám sát thay đổi. Nhờ đó, mới đáp ứng kịp yêu cầu của sự đổi mới và phát triển không ngừng của hệ thống Ngân hàng. Mặt khác, chương trình giám sát mới phải in được thông báo tóm tắt các chỉ số hoạt động để gửi cho các TCTD, công tác giám sát mới có tác dụng thiết thực.
       Bốn là,về con người, mà trước hết là những Thanh tra viên trực tiếp thực hiện công tác giám sát, phải được đào tạo và đào tạo lại; phải thường xuyên trang bị thêm trình độ và kỹ năng giám sát ngân hàng; trình độ tin học, khả năng vận hành và khai thác phần mềm giám sát; phải tổ chức tập huấn mỗi khi có sự thay đổi chương trình giám sát hay thay đổi các chuẩn mực giám sát. Có như vậy về mặt con người mới đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra.
        Năm là,phải thay đổi cách nghĩ, phải nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác giám sát, đặc biệt đối với những người trực tiếp thực hiện chức năng giám sát. Giám sát không phải để báo cáo gửi lên cấp trên mà chủ yếu thông qua giám sát để đưa ra nhận xét, phán đoán có tính chất cảnh báo về tình hình hoạt động kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu an toàn trong hoạt động; phát hiện và ngăn chặn kịp thời các vi phạm pháp luật. Từ đó có tác dụng ngăn ngừa và hạn chế rủi ro có thể xảy ra, bảo đảm an toàn cho TCTD nói riêng và toàn hệ thống nói chung, đây mới là điều quan trọng.

Đăng ở Tạp chí Ngân hàng Số7-2006
Xem thêm…